Những bậc thầy hiền triết của xứ sở Tây Tạng

Xứ Tây Tạng địa hình hiểm trở, núi non hùng vĩ, sống tách biệt với thế giới, ít khi có người ngoài đến du lịch. Ngày nay, Tây Tạng đang phát triển lên để trở thành một thành phố hiện đại, nhưng sự e dè và kép kín của người dân đối với thế giới bên ngoài vẫn còn. Hãy cùng Rememberingthemasters tìm hiểu về những bậc thầy hiền triết của sứ sở tây tạng

1/ NGÀI JAMGON KONGTRUL ĐỆ NHẤT:

nhung-bac-thay-hien-triet-cua-xu-so-tay-tang

Cuộc đời của Đức Liên Hoa Sanh, còn được biết đến là Guru Rinpoche hay Padmakara, được viết trong “vòng hoa lam ngọc quý báu”, là bộ sách nói về cuộc đời của 108 vị terton do Ngài Jamgon Kontrul đệ nhất viết và được tìm thấy trong quyển 1 thuộc bộ Rinchen Terdzo của Ngài.

Đức Padmakara có sự ảnh hưởng rất lớn đến chúng sanh qua giáo huấn Kim Cương Thừa, đặc biệt là việc chôn giấu những kho tàng terma thâm sâu. Bậc thầy vĩ đại này không giống người thường cũng không phải thánh nhân như những địa Bồ Tát mà là hóa thân của hai Phật A Di Đà và Thích Ca Mâu Ni, giáng trần để thuần phục nhân loại và những linh hồn bất trị.

Kể cả với những đại Bồ Tát cũng khó giải thích hết đầy đủ về tấm gương của cuộc đời Ngài, nên tôi xin được tóm tắt như sau:

Trong cõi Pháp thân của Tinh túy Kim Cương Quang, Đức Guru Rinpoche đã tự mình giác ngộ viên mãn từ vô thủy để làm nền tảng giải thoát của thanh tịnh nguyên sơ. Ngài được biết đến là đấng Thủ Hộ nguyên thủy Bất biến Quang.

Trong cõi Báo thân tự-hiển lộ của Sấm Trống Viên mãn, Ngài đã thể hiện được Vô tận Trí của ngũ bộ Vô biên Đại dương Chư Phật.

Như hiển lộ bên ngoài của sự phô diễn tự-hiện này, trong vô số phô diễn tướng thân ở những cõi của năm gia đình Phật bao gồm cõi Hóa thân tự nhiên cùng hiển lộ của Đại Phạm Thiên, Ngài xuất hiện như là Bồ Tát ở mười địa. Vì tất cả những điều này đã phô diễn trí tuệ của Guru Rinpoche, “Vô tận Luân Trang nghiêm” nên Ngài được xem như là Đấng Trì Thủ Trọn Vẹn Liên Hoa.

2/ CUỘC ĐỜI CỦA KUNKHYEN LONGCHEN RABJAM:

nhung-bac-thay-hien-triet-cua-xu-so-tay-tang-Longchenpa

Trong tất cả các đạo sư Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện) từ thời Guru Padmasambhava và Vimalamitra (thế kỷ thứ 9), Kun-khyen Longchen Rabjam (1308-1363) được xem là người lỗi lạc nhất, thiền giả, triết gia và tác giả vĩ đại nhất. Ngài được sinh ở ngôi làng tên là Todtrong, thung lũng Tra miền Yoru – một trong hai miền vùng trung Tây Tạng, Yoru và Wuru – vào ngày mười tháng mười một năm con Khỉ Thổ. Cha ngài, đạo sư Tensung là con một nhà hiền triết Nyingma tên là Lhasung thuộc bộ tộc Rog. Lhasung sống thọ hơn một trăm tuổi, là cháu đời thứ hai mươi lăm của Gyalwa Chog-yang, một trong hai mươi lăm đệ tử chánh của Guru Padmasambhava. Mẹ của Longchen Rabjam là người của bộ tộc Dromtên là Sodnamgyen.

Có nhiều điều mầu nhiệm đi theo với sự ra đời của ngài. Khi mang thai ngài, mẹ ngài nằm mộng thấy trên đầu một con sư tử khổng lồ có hai mặt trời chiếu sáng toàn thế giới rồi tan trong bàn tay bà. Lúc bà hạ sinh ngài racó một nữ pháp sư Namtru Remati xuất hiện trước mẹ ngài trong bộ dạng một người đàn bà đen và một thanh gươm. Ôm đứa bé trên tay, nữ hộ pháp nói : “Ta sẽ bảo vệ nó.” Rồi bà chuyển lại cho mẹ ngài bế và biến mất. Một ngày khi mẹ ngài đang làm việc ngoài đồng, một cơn mưa đá bất ngờ rơi xuống nên bà chạy vội về nhà, để quên đứa con đang ở ngoài đồng. Đến khi nhớ ra, bà đi tìm con, nhưng đứa bé đã biến mất. Bà bắt đầu kêu khóc và người đàn bà đen lại xuất hiện, bế đứa bé trên tay và giao lại cho bà mẹ.

3/ Ðại sư Shabkar Tsogdruk Rangdrol (1781-1851):

nhung-bac-thay-hien-triet-cua-xu-so-tay-tang

Ngài đã để lại một kho văn tự đồ sộ,  trong đó có hai tài liệu viết về tiểu sử cuộc đời của chính ngài, là một trong những tài liệu được yêu chuộng và gây nhiều nguồn cảm hứng nhất trong văn chương Tây-Tạng. Không chỉ kho tàng thi ca và đạo ca trong hai văn kiện tiểu sử này, đại sư Shabkar còn truyền lại cho chúng ta về sự nghiệp tâm linh của ngài, bắt đầu bằng sự phát tâm từ bỏ thế gian ngay trong thời thơ ấu, để cuối cùng dẫn đến thành đạt trọn vẹn giác ngộ quả vị.

Ngài đã dùng cả cuộc đời trong động thất, hoặc đi hành hương đây đó, thăm viếng khắp nơi linh thiêng tại Tây-Tạng và toàn vùng Hy Mã Lạp Sơn — từ Amdo và vùng biên giới Mông Cổ nơi ngài chào đời, cho đến dãy núi hùng vĩ ở Amnye Manchen, rồi từ đó, ngang qua hai tỉnh U và Tang ở miền trung, cho đến những khe núi ở Tsari, rồi đến Kailash, đỉnh núi linh thiêng ở miền tây, và sau đó, xuôi nam xuống thung lũng Kathmandu ở xứ Nepal.

Ngài sống hoàn toàn tự do, sống bên lề xã hội.  ngài sống ẩn dật cả cuộc đời trên những rặng núi cao, không cần ai chăm lo, dù có cũng là số ít những đệ tử chân truyền. Những đệ tử có đủ khả năng và ý chí để vượt qua khó khăn thử thách gây ra bởi cảnh sống khắc nghiệt, và đã nếm được vị tự do tuyệt hảo đến từ sự hoàn toàn từ bỏ những lo lắng tầm thường thế gian.

4/ ĐẠI SƯ VĨ ĐẠI PATRUL RINPOCHE (1808 – 1887):

patrul_rinpoche_dzogczen

Patrul Rinpoche là một đạo sư giác ngộ, ngài sống cuộc đời lang thang, là một trong những bậc thầy tâm linh vĩ đại nhất của thế kỷ 19. Hồi ức về ngài vẫn còn rất sống động đến ngày nay và tạo ra nguồn cảm hứng cho tất cả hành giả Phật giáo của Tây Tạng.

Patrul Rinpoche sinh năm 1808 tại Dzachuka, thuộc vùng Kham phía bắc của Shechen và Dzogchen. Với trí thông minh, tấm lòng từ tâm, và những khả năng đặc biệt sớm biểu hiện. Ngài được công nhận như là tušlku (vị tái sanh) là một đạo sư của vùng ấy, tên là Palge Samten Phuntshock, nổi tiếng vì đã xây dựng một bức tường một trăm ngàn viên đá khắc thần chú OMÏ MANÏI PADME HŪMÏ. Về sau, ngài được công nhận là một hóa thân của Shantideva, và ngài cũng được xem là một hiện thân của ngữ của Jigme Lingpa. Ngài gặp vị thầy chính của mình sau đó, Jigme Gyalwai Nyugu. Vị đại sư này là một trong những đệ tử cao cấp nhất của Jigme Lingpa và khi trở lại xứ Kham, ngài đã có nhiều năm thiền định một mình trong một thung lũng hẻo lánh của Dzama Lung. Không có ngay cả một hang động trú ẩn nào nơi ngài ở. Cái nhà của ngài lõm sâu trong đất, và ngài ăn những cây và rễ hoang để sống. Nhiều năm trôi qua, tiếng tăm của vị ẩn sĩ khổ hạnh vang xa. Hàng trăm đệ tử đến viếng thăm ngài, sống trong những lều gần cạnh. Ngài là kiểu mẫu của người thực hành Pháp với lối sống rất giản dị, quyết tâm ở yên chỗ cho đến khi thành tựu chứng ngộ.

5/ ĐỨC DILGO KHYENTSE RINPOCHE (1910 – 1991)

nhung-bac-thay-hien-triet-cua-xu-so-tay-tang-DKRshedra

Ngài đã viết nhiều bài thơ, bản văn thiền, bình giảng, và là một tertošn, Người khám phá ra “những kho tàng” chứa đựng những lời chỉ dạy sâu xa được Padmasambhava cất kín. Ngài là một trong những vị thầy lãnh đạo của giáo huấn cốt lõi của Đại Toàn Thiện, Dzogchen ; ngài còn nắm giữ của hàng trăm dòng phái, ngài đã tìm , nhận và truyền dạy trong suốt đời mình. Trong thế hệ của ngài, ngài là một người kiểu mẫu của phong trào Rime (không bộ phái), nổi tiếng vì khả năng truyền đạt những giáo lý của mỗi dòng phái Phật giáo phù hợp với truyền thống riêng của nó. Chỉ có số ít lama đương thời không được ngài chỉ dạy, còn lại, gồm cả đức Dalai Lama , đã tôn kính ngài như một trong những vị thầy chính yếu của họ.